Bạc tượng trưng sự cứu rỗi,
Vàng thần tánh của Chúa Trời,
Kinh thánh có lời vàng, bạc,
Lời vàng chép ít ỏi thôi.
(Thi 12:6).
-
Kèn bạc Chúa bảo tạo tác,
Hiệu lệnh dân thánh ra đi,
Tiếng kèn cứu ân thông đạt,
Muôn dân hiểu Chúa làm gì.
(Dân 10:1-10)
-
Bàn vàng trưng bày bánh thánh,
Bàn bằng bạc đãi công nhân,
Đền thờ, phòng ốc bên cạnh,
Hai loại bàn đặt cân phân.
(1 Sử 28:14, 16)
-
Chơn đèn vàng soi lẽ thật,
Ta đến nơi ngự Chúa Trời,
Chơn đèn bạc trong phòng ốc,
Phô bày cứu rỗi cho người.
(1 Sử 28:11-15).
-
Có bình vàng, bạc, gỗ, đất,
Trong nhà lớn băng hoại rồi,
Bình bạc rao cứu ân thật,
Chậu vàng truyền ân điển thôi.
(Ezra 1:9; 1 Sử 28:14, 2 Ti 2:20).
-
Chén đầy tràn ngồi bàn Chúa,
Chén bạc cứu rỗi thỏa vui,
Chén cứu rỗi ta cầm lấy,
Thiên sứ bát vàng phạt người.
(1 Sử 28:17, Thi 116:13; Khải 15:7)
MK.